Thứ năm, ngày 23 tháng năm năm 2013

TRƯỞNG BAN VĂN NGHỆ.



                                            Nguyễn Sĩ Tạo.
          (Thân tặng tất cả các bạn trong ngày về tháng 7/2013 ).

                              Tháng năm, trời đã bắt đầu nắng gắt. Buổi sáng tôi có thói quen đến một quán café nào đó nằm sát biển, hướng mặt ra xa, ngắm bầu trời, mặt nước xanh, hứng lấy làn gió mát và nhâm nhi từng ngụm café. Trong không khí thoáng đãng, không gian yên ắng, tâm hồn thảnh thơi rồi  nghĩ vẩn vơ một khoảng thời gian xa xưa thật dễ thương…
                              Tháng chín năm 1972, tôi vào trường Sư Phạm Qui Nhơn. Những ngày đầu tiên bước vào lớp, bỡ ngỡ vì bạn bè chưa quen…Đang ngồi trong lớp lơ đãng thì ai đó giới thiệu tôi và thế là tôi nhận chức trưởng ban văn nghệ là một việc chẳng đặng đừng : Lớp đưa tôi nhận chức không thông qua bầu bán và xét năng lực, xem tôi có xứng tâm và xứng tầm hay không?
            đời, kẻ có chức có quyền thì sẽ được người ta kính nể, đi đâu cũng có kẻ đón người đưa. Riêng cái chức Trưởng ban văn nghệ mà tôi được vinh danh nắm giữ đã để lại những cảnh bi, hài khó quên : Nào là chọn “ca sĩ”, để thực hiện màn hợp xướng. (Người không biết hát thì tích cực xung phong. Người biết hát thì trốn biệt tăm!!!).  Chọn “vũ công” để hình thành các màn vũ thì lại càng khó, vì có ai chuyên nghiệp đâu? Vì vậy cứ chọn theo cảm tính cho hai cuộc dự thi văn nghệ hàng năm của trường.
                            Trong lớp, có hai cô xinh đẹp xung phong thực hiện,  dàn dựng các tiết mục văn nghệ này. Cô Irene có năng khiếu ca múa, cô H.T là Mạnh Lệ Quân (Á . Nhớ lộn Mạnh Thường Quân, có lẽ vì nét kiều diễm và kiêu sa và sự giúp đỡ tài trợ nhiệt tình của nàng. )
                              Thế là dưới sự điều khiển nhẹ nhàng của hai nàng hỏi ai mà không chấp hành được!!!
                                Tôi nhân danh là Trưởng ban văn nghệ  ngày ấy còn kiêm luôn nhiệm vụ gác cửa bảo vệ  cho các “tài năng” văn nghệ của lớp trong mỗi buổi tập, bởi vì các ông giáo làng tương lai hay gõ cửa đòi cho vào xem tập múa,  hát hay là muốn xem các nàng … giáo sinh xinh đẹp, duyên dáng. Đã lâu lắm rồi nhưng tôi không sao quên được khuôn mặt LXT và TĐT , mỗi khi tôi mở cửa ra là hầu như “permanent” ở đó rồi!
                                Màn hoạt cảnh Miếng Trầu Duyên để lại trong tôi nhiều kỉ niệm dở khóc dở cười : Ai đời đằng đặng là một Trưởng ban văn nghệ mà  hai cô em Irene và H.T xỏ mũi bắt đóng vai “em bé” bưng quả trong lễ cưới rước dâu. Tôi nằn nì xin xỏ nhưng cuối cùng đành chịu thua vì  Lý do hai cô em dàn dựng màn vũ đưa ra rất là có lý, vì tôi…hơi bị lùn, nhỏ con giống em bé.
                               Trời ạ ! lùn là do cha mẹ sinh ra phải chịu , nào ai cam chịu phận …lùn .
                               Nhưng hai em xinh đẹp dịu dàng phán rằng :
                               -Hễ lùn là phải bưng quả .
                               Thôi đành phải chấp nhận vậy, vì sinh ra đã mang nghiệp “lùn” vào thân.
                               Tôi nhớ lại năm nhất niên, hai cô cũng bảo tôi rằng Trưởng ban văn nghệ là phải có mặt trong dàn hợp xướng Chờ Nhìn Quê Hương Sáng Chói. Tôi nói – Tôi chưa thuộc bài hát? Hai cô nhỏ nhẹ phán rất nhẹ tênh:            
                               - Không thuộc thì đứng phía sau nhóp nhép cũng được!
                               Thế là “lủi thủi” tuân theo lời hai cô tôi ra đứng phía sau … Đã lùn mà còn đứng hàng sau!
                               Bây giờ nhìn tấm hình thì chẳng ai thấy mặt mũi tôi đâu cả, may quá còn “lưu dấu lại” chỏm tóc… để làm bằng chứng cho các cô, không thôi các cô lại bảo TBVN trốn tránh trách nhiệm!!!Thế rồi cứ theo dưới sự “điều khiển, dẫn dắt” của hai cô. Kết quả Văn nghệ lớp tôi quá tốt và Trưởng ban văn nghệ cũng có tiếng thơm lây.
                  Từ đó, tôi thay đổi dáng đi,(nếu mà mặc áo dài như ông bà ta lúc  xưat hì
            tôi bảo thợ  may, may vạt trước ngắn hơn vạt sau).
                               Tôi cứ thế mà đi trên mây…cho đến một hôm, tôi khấp khởi cùng các bạn đến trường xem kết quả thi tốt nghiệp ra trường. Dò hoài, không thấy tên mình – Thôi chết rồi ! Nhà trường đánh sót tên mình. Tôi định quay vào văn phòng hỏi nhưng văn phòng đóng cửa. Quay trở ra, tôi dò lại thật kỹ….vẫn không thấy tên mình. Tôi liếc sang bên cạnh có thêm một danh sách nữa – Hay là mình TBVN nên đậu đặc biệt không chừng? Và đúng như thế, bảng này có tên tôi. Tôi mừng quá lần lên trên – Lần này thì tôi toát mồ hôi hột … Bảng danh sách ghi tên những giáo sinh thi lại!!! Tôi nhìn lại tên mình lần nữa, chắc thi lại một môn nào đó? Nhưng không?! Một môn, hai môn, ba môn…sáu môn… choáng váng! Tôi không còn đứng vững được nữa? Làm sao bây giờ???Kiểu này thì chết chắc! 100% là xếp bút nghiên đi thẳng vào quân trường!!!
                               Sau khi trấn tĩnh lại! Lau mồ hôi (Vắt khô khăn xong). Tôi đi thẳng đến nhà thầy Phạm Sĩ Học nhờ thầy cứu giúp! Nghe xong, thầy mỉm cười:
                               -Không sao đâu? Về nhà cố gắng học bài là đậu!
                               Tôi tìm lại chồng vở cũ, mở ra nhưng toàn là giấy trắng!!! Có cuốn ghi chép thì ít  nhưng đứt khúc thì nhiều! Thôi xuống nhà mấy cô bạn mượn vở (Vì các cô, cô nào cũng ghi chép cẩn thận). Nhưng nhất quyết sẽ không đến nhà hai cô em Irene và HT đâu, vì đường đường mình là Trưởng ban văn nghệ!  Cuối cùng, tôi quyết định tìm đến nhà cô Sen mượn vở .
                               Mùa hè năm đó, ai thơ thẩn đi nhặt cánh phượng rơi hay lắng nghe tiếng ve trong dàn đồng ca mùa Hạ mà mơ ước tương lai…còn riêng tôi ngày ngày ôm vở nhìn dòng chữ, nhớ cô Sen mà quyết “dùi mài kinh sử”, lẳng lặng, ngậm ngùi chờ ngày ứng thí.
                               Thế rồi, tôi cũng được tai qua nạn khỏi ra trường với nhiệm sở cuối cùng là Quảng Tín …  Một ngôi trường vùng sâu, vùng xa …để rồi sau đó, ngày ngày đi dạy tha hồ chạy maratong với “heo rừng” và trèo cây đua cùng với “khỉ”…
                     
          Đến nay ,đã gần bốn mươi năm. Thời gian trôi, đời sống cơm, áo, gạo, tiền…những nghịch cảnh, buồn phiền đã làm cho các bạn cùng lớp tôi trở thành những ông giáo, bà giáo già. Chuyện ngày xưa bao giờ cũng đẹp, tình ngày xưa bao giờ cũng thơ… Một bậc trưởng thượng đã viết trong một ca từ :”…Tìm đâu những ngày xinh như mộng…”
          Và…hôm nay, tôi  ngồi tại BIỂN NHỚ Quy Nhơn buồn trông xa xa những dãy núi xanh mờ kéo dài ra tận biển…lòng ngùi nhớ những kỉ niệm của một thời đã qua , của hai năm làm Trưởng ban văn nghệ  bất đắc dĩ, của những tháng ngày… tìm đâu ! biết đâu tìm…

Mùa hè Quy Nhơn 05/2013
Nguyễn Sĩ Tạo

Bài Ca Tháng 7 - Thơ - Cát

*tặng các bạn nhị 6/k11

tháng 7 v con ph
ngắn hơn một gang tay
có loài chim biết khóc
nhớ bạn kêu suốt ngày

tháng 7 về trí nhớ
nhỏ hơn một nắm tay
có nhiều ngăn vách hở
gió lùa kỷ niệm bay

tháng 7 về xây tổ
họp bạn xưa xẻ bầy
ôi một thời sư phạm
nhung nhớ nào quắt quay

tháng 7 về nghiệp cũ
tìm bụi phấn năm nào
còn vương trên áo mũ
mãi một đời xôn xao

tháng 7 về “nhị sáu”
có bàn tay trong tay
có hơi sương trong mắt
những bông hoa dáng gầy

tháng 7 về kể chuyện
dài hơn cả thiên thu
chuyện ngày xưa chưa nói
chuyện bây giờ …lu bu…

tháng 7 về nhớ nhé
cánh chim “rừng phong” xa
nắng Cali chuyển hướng
mưa Sài Gòn hoan ca
muôn phương cùng hợp xướng
sư phạm ơi một nhà…

Cát

Hình Kỷ Yếu của lớp Nhị niên 6 - k4

Tôi , Nguyễn Thọ k4 , Nhatrang , vừa tìm được tấm hình cả lớp : nhị niên 6 - k4 & danh sách . . .
Kính mong BBT cho lên trang nhà , để anh em " nhị niên 6 - k4 " nhìn lại hình ảnh xưa , cách 46 năm về trước .
Thành thật cám ơn BBT . . .
                 Nguyễn Thọ K4 , Nhatrang .
 
 
 
Theo hàng dọc , từ trên xuống . . .
1 ) Nguyễn đăng Vận , Lê văn Tao , Phan duy Trừng , Lê hữu Thuận .
2 ) Lê quang Vĩnh , Võ Tri , Võ Trung , Trần viết Yến .
3 ) Châu đức Thông , Đặng hữu Trưng , Nguyễn mạnh Quy .
4 ) Nguyễn Trí , Nguyễn Thí , Đặng nhật Trung , Trần khánh Tiếu .
5 ) Lê văn Tuấn , Nguyễn đình Thanh , Trần quang Sơn , Lê văn Thí .
6 ) Lê văn Lý , Nguyễn Thọ , Lê quang Thạnh , Hồ Thiều , Huỳnh Năm .
7 ) Phan Tuấn , Nguyễn Quảng , Nguyễn Mua , Ngô quang Siêm , Phan Quán .
8 ) Lê trọng Tiêu , Phùng quốc Quý , Nguyễn cẩm Nhung , Nguyễn Nhơn , Huỳnh Nổ .
9 ) Huỳnh đình Phương , Nguyễn văn Mẫn , Nguyễn đình Phiếm , Hoàng Minh , Trần Luyến .
10 ) Nguyễn văn Rìu , Bùi duy Lý , Đặng khắc Minh , Phạm văn Nam , Phan đức Liên .
11 ) Nguyễn văn Luyện , Ngô Lực , Trần đình Liêm , Nguyễn hữu Linh , Trần xuân Lễ .
 

Thứ ba, ngày 21 tháng năm năm 2013

NHỮNG KỸ NIỆM KHÔNG QUÊN



Vương Hữu Thành

Vậy là gần 40 năm trôi qua, cuộc đời tôi biết bao những thăng trầm, đổi thay theo thời gian, vui, buồn lẫn lộn. Những năm tháng ấy có biết bao kỷ niệm từ những ngày tháng ấu thơ đến nay tuổi đã lục tuần. Những kỷ niệm làm tôi nhớ hoài, những kỷ niệm đẹp thời trai trẻ, mỗi khi nghĩ lại tình cảm lại dâng trào một tình yêu, tình bạn thật khó tả.
Tuổi đôi mươi của cậu sinh viên sư phạm mới ra trường, chỉ quen với vùng quê nghèo chưa một lần xa nhà ra ngoài tỉnh. Thế mà lại nhận công tác tại vùng cao nguyên xa lạ Pleiku, cái tên vừa lạ lẫm, chen lẫn sợ hãi quanh mình...
Đêm đó, cả nhà tôi hầu như không ai ngủ, bà và má cứ đi đi lại lại suốt vì lo cho đứa cháu, đứa con của mình ngày mai lên đường đi dạy học sẽ ra sao? Liệu có biết đường đi không? Đến đó không một người thân nào liệu nó ra sao? Trường nó dạy ra sao? Thầy giáo trẻ liệu có bị bắt nạt không? v.v…và v.v…
Mới bốn giờ sáng, tôi đã liên hệ một chiếc xe cùng xã đi Pleiku. Bác tài ngạc nhiên vì tôi đến quá sớm, lên xe chọn một chỗ ngồi, xe đón khách trả khách, tôi ngồi bất thần không một tiếng động. Bỗng giật mình khi nghe bác tài nói “tới nơi rồi”. Nhìn quanh không có một bóng người thân, tôi vội vàng kéo cái túi sách và xuống xe. Cảm giác sợ hãi đang bao trùm quanh mình chẳng biết đi đâu về đâu ở xứ sở xa lạ này...
Như có bùa hộ mệnh, một anh thanh niên đi xe máy đỗ xịch trước mặt, một câu hỏi ấm áp làm sao! “Dân sư phạm Quy Nhơn phải không?” Mừng quá! Tôi vội gật đầu, gật đầu lia lịa như sợ anh không hỏi nữa, và thế là anh bảo tôi lên xe, chở về chỗ các anh tắm rữa, ăn uống và tối dẫn đến gới thiệu nhiều anh chị em khác. Bao nhiêu năm qua rồi nhưng tôi nghĩ chỉ có dân sư phạm mới có được tấm lòng nhân hậu và tình cảm sâu đậm đến thế. Cho đến bây giờ, mỗi lần nhớ lại tôi vẫn bùi ngùi xúc động!
Sáng hôm sau, tôi tạm chia tay các anh để đến Sở học chính Pleiku nhận công tác. Đến đó tôi đỡ cô đơn hơn vì ở đó tôi lại có anh Huỳnh Ngọc Tượng cùng lớp, thế là tôi có nơi tá túc. Nỗi lo lắng cứ vơi dần, mang lại cho tôi một cảm xúc mới lạ, lại được gặp những người bạn học có gia đình sống ở Pleiku như: Đặng Ngọc Lân, Tạ Thị Bích Lệ... Lúc đó tôi nghĩ rằng dù cuộc sống còn vô vàn khó khăn trước mắt nhưng tôi không cô đơn vì đã có bạn bè cùng chia sẽ, giải bày, cùng nhau vượt khó và tôi cảm thấy lòng thật nhẹ nhõm, bình tĩnh hơn sẵn sàng lên bục giảng cùng những học trò nhỏ thân thương. Suốt thời gian ấy bọn tôi sống với nhau như anh em ruột thịt, cùng nhau chia ngọt xẻ bùi.
Lên bục giảng chưa được bao lâu thì đến đầu tháng ba tôi lại có quyết định chuyển trường mới. Khi chuyển sang trường mới chưa đầy một tuần, sáng chủ nhật “ngày 16 tháng 3 năm 1975” thì tôi về Pleiku chơi. Đến nơi, thấy người dân ở Pleiku đang di tản. Tôi tháp tùng theo xe anh chị của Lê Văn Cảnh, là bạn cùng khoá nhận công tác cùng trường. Xe đi theo hướng đường Bảy từ Pleiku về Phú Bổn qua Củng Sơn đến sông Ba. Nơi đây nước lớn chờ bắt phà qua sông. Sau đó chúng tôi đi máy bay về Tuy Hoà. Đến trưa ngày 19 tháng 3 chúng tôi đã ở nhà Đặng Ngọc Tài, Tài là người bạn học cùng lớp 6 khóa 11. Chiều hôm đó, cả nhóm lại được Tài dẫn đi dạo chơi thị xã Tuy Hoà và sáng ngày 20 tháng 3 thì tôi về quê.
Dù năm tháng qua đi, cuộc đời tôi đã rẽ sang một hướng đi mới, nhưng những kỷ niệm đẹp của thời trai trẻ vẫn như là một trang huyền thoại của đời mình, tôi nhớ hoài trong ký ức chưa một lần lãng quên. Sau đó, năm 1977 tôi chuyển sang học một ngành mới, khoá I trường đại học Tây Nguyên. Ra trường lấy vợ công tác tại thị xã Buôn Hồ. Từ đó đến nay.
Cuộc sống bình lặng của một công chức cứ vậy lặng lẽ trôi đi. Cho tới một ngày cuối tháng tám năm 2012. Tôi đang ở cơ quan thì nhận được điện thoại của cậu em ở dưới quê ( Cát Hanh_Phù cát _Bình Định ) báo là ông Bình, Trưởng thôn Tân Xuân tìm và nói rằng, từ trưa tới giờ có người gọi điện rất nhiều lần hỏi ở thôn có ai tên VHT không? Ông ấy trả lời họ Vương Hữu thì có, còn tên Thành thì phải đợi ông hỏi đã, nhưng người đó có vẻ rất sốt ruột! Nghe vậy, tôi vội cúp máy và gọi lại cho ông Bình hỏi thăm và xin số người đã tìm mình. Tôi bấm máy trong lòng thì phân vân vì nghe ông Bình nói là bạn học cũ ở Sư Phạm Qui Nhơn, nhưng sao tôi nghe trong máy, giọng một phụ nữ còn nhỏ lắm.
-Alô! chào cô ! Cô cho tôi gặp ai là bạn tôi với ạ!
-Dạ xin lỗi bạn anh tên gì ạ? Đầu dây kia người phụ nữ hỏi.
-Tôi xin lỗi vì tôi cũng không biết bạn tôi tên gì? Nhưng tôi tên là VHT đây!
Một tiếng reo vui và máy được chuyển qua người khác. Sau ít phút ngỡ ngàng, tôi nhận ra anh bạn cùng học lớp nhị 6 Sư Phạm Qui Nhơn ngày trước. Và tôi cũng biết tôi là một trong ba người cuối cùng của lớp chưa tìm thấy?
 Niềm vui nối tiếp những niềm vui đến với tôi liên tục những ngày sau đó điện thoại rồi email ở trong nước rồi được kết nối từ Quảng Nam tới Cần Thơ và từ Mỹ, Canada tới Úc. Và thêm một niềm vui là cùng ở ĐakLak với tôi có bạn Mai Trọng Tài, các bạn cũng mới liên lạc được trước tôi khoảng một tháng
Một tuần sau, vào một buổi chiều nắng vừa nhạt, trước nhà tôi có một người đàn ông tóc hoa râm, dừng xe và hỏi tôi. Bước ra nhìn người khách lạ, tôi không thể nào nhận ra đó là bạn Trần Trọng Thái, người bạn cùng lớp năm xưa đã lặn lội từ Phú Yên lên Buôn Hồ tìm và thăm tôi.
Chừng một tháng sau, tôi nhận được điện thoại của MTT báo sẽ có các bạn lên thăm. Niềm vui vỡ òa khi sáng đó xuất hiện ở nhà tôi là Mai Trọng Tài, Lệ Thu ở Đồng nai, và vợ chồng Huỳnh Kim Thạch ở Sài Gòn. Bốn chúng tôi gặp nhau, sau phút ngỡ ngàng vì nhiều năm xa cách, chúng tôi như sống lại tuổi đôi mươi với bao nhiêu chuyện, bao nhiêu điều muốn nói và đã nói. Và trong đó còn có cả những hẹn hò cho những lần gặp sau và nhất là dự định họp lớp chúng tôi khi tìm được hết các bạn trong lớp.
Tuy không còn theo nghiệp làm thầy nữa, nhưng những năm tháng ở sư phạm là một kỷ niệm đẹp về tình yêu, tình bạn, tình thầy trò, nhân cách sống và những kỷ niệm đẹp của những người bạn cùng sư phạm đã dẫn dắt tôi trong những ngày đầu làm thầy trong cuộc đời tôi, mãi mãi trong trái tim tôi.
Tôi xin cảm ơn tất cả những người thầy, những người bạn sư phạm Quy Nhơn mến yêu của tôi đã cho tôi tất cả, tất cả để có cuộc sống đẹp như ngày nay.

Daklac tháng 4 năm 2013
Vương Hữu Thành

KỶ NIỆM NÀO ĐÂY - Thơ - Trịnh Công Tùng




Hai năm ấy đoạn đời chừ xa quá
Đã qua rồi bao mùa nắng với mưa
Công viên xưa còn mến nắng sân trường
Hay thay đổi tang thương theo nhịp bước.

Gian nội trú giờ có còn như cũ
Hành lang xưa hun hút có chờ mong
Đón gió hè hay lặng ngắm mưa đông
Soi bóng sứ khẳng khiu hoa vàng trắng.

Thời gian trôi qua bao năm xa cách
Vẫn hiền ngoan với dáng nhỏ thân gầy
Hay tàn phai theo vóc dáng hình hài
Ba mươi chín năm nẻo đời khấp khểnh.

Này bạn hiền xin cho tôi hỏi nhỏ
Vài câu thôi thêm mở ngõ cõi lòng
Trong đêm nao mãn khóa ánh lửa tàn
Buổi chia tay sao mà thân thương quá.

Lòng kẻ xa quê dường như ấm lại
Giúp vượt qua những tủi nhục ê chề
Nhớ lời thầy Trần Văn Mẫn bảo ban
Đời đã chứng cho lời khuyên nhủ ấy.

Con thuyền đời đưa người muôn vạn nẻo
Số phận cô đơn riêng lẻ của người
Sáu trăm người giờ còn lại bao nhiêu
Vẫn trung trinh với nghề yêu mến trẻ.

Vẫn say mê soạn bài lên bục giảng
Nợ áo cơm đã vùi dập ước mơ
Mãi bơ vơ và mãi mãi một mình
Lầm lũi bước với nỗi lòng câm nín

Giấc mộng dài nhưng nồi kê chưa chín …
 
TRỊNH CÔNG TÙNG.
Tháng 5/2013.

LinkWithin

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...